An Đường Khang – Viên Uống Hỗ Trợ Điều Trị Đái Tháo Đường (30 viên)

0 out of 5

An Đường Khang với công thức Đông Y mang tính đột phá hỗ trợ hạ – ổn định đường huyết, giảm nguy cơ biến chứng của bệnh tiểu đường. 100% chiết xuất tự nhiên với 3 thành phần chính đông trùng hạ thảo, khổ qua rừng, đậu bắp.

  • Chỉ định: Người cao huyết áp, hoặc có nguy cơ tăng huyết áp.
  • Quy cách: Hộp – 30 viên
  • Thương hiệu: An Đường Khang
  • Sản xuất: Việt Nam

Mô tả

An Đường Khang - Viên uống thảo dược hộ trợ điều trị đái tháo đường

Viên uống hỗ trợ điều trị đái tháo đường An Đường Khang được chiết xuất từ đông trùng hạ thảo kết hợp khổ qua rừng, đậu bắp và các loại thảo dược khác. Có tác dụng hỗ trợ hạ – ổn định đường huyết, giảm nguy cơ biến chứng của bệnh tiểu đường

Thành phần :

  • Momordica charantia L (Khổ qua): 230 mg
  • Abelmoschus esculentus L (Đậu bắp): 80 mg
  • Hibiscus sabdariffa (Bụp giấm): 70 mg
  • Stevia rebaudiana (Cỏ ngọt): 40 mg
  • Mentha arvensis (Bạc hà): 40 mg
  • Cordyceps miliraris L (Đông trùng hạ thảo): 5 mg

Phụ liệu: chất làm dày (Tinh bột (1405)), chất chống đông vón (talc (553(iii), magnesi stearate) vừa đủ 1 viên 500 mg

Đối tượng sử dụng: Dùng cho người bệnh tiểu đường

Liều dùng và cách dùng:

  • Uống từ 1 đến 2 viên/ ngày.
  • Có thể dùng Hạ Áp Khang kèm với các thuốc tân dược điều trị cao huyết áp.
  • Uống ngay sau khi ăn. Không dùng khi bụng đói hoặc khi có dấu hiệu hạ đường huyết hay huyết áp thấp.

Quy cách đóng gói:

  • Lọ 30 viên nang x 500 mg
  • Lọ 60 viên nang x 500mg

Hạn sử dụng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
(Ngày sản xuất và hạn sử dụng xem trên sản phẩm)

Bảo quản: Nơi khô ráo và thoáng mát, tránh ánh nắng mặt trời. Để xa tầm tay trẻ em.

Chống chỉ định:

  • Không dùng khi huyết áp thấp, đường huyết thấp.
  • Không dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.
  • Không sử dụng nếu mẫn cảm với bất kì thành phần nào của sản phẩm.

(*) Lưu ý: Sản phẩm không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc. Hiệu quả có thể khác nhau tùy theo cơ địa mỗi người.

Kiến thức về tiểu đường

TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

I. Hiện trạng của bệnh đái tháo đường

1. Thế giới

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), năm 2015 toàn thế giới có 415 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đường (đái tháo đường), tương đương cứ 11 người có 1 người bị đái tháo đường, đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu, tương đương cứ 10 người có 1 người bị đái tháo đường. Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực phẩm không thích hợp, ít hoặc không hoạt động thể lực ở trẻ em, bệnh đái tháo đường tuýp 2 đang có xu hướng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng.

Bệnh đái tháo đường gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi. Nhưng một điều đáng khả quan, có tới 70% trường hợp đái tháo đường tuýp 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng tuân thủ lối sống lành mạnh, dinh dưỡng hợp lý và tăng cường luyện tập thể lực.

2. Việt Nam

Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh đái tháo đường chỉ là 1,1 % (ở thành phố Hà nội), 2,25% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (thành phố Huế), nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết trung ương cho thấy: tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5.42%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63.6%. Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose (đường glucose) toàn quốc 7,3%, rối loạn glucose máu lúc đói toàn quốc 1,9% (năm 2003). Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ đái tháo đường toàn quốc là 4,1%, tiền đái tháo đường là 3,6%. (Bộ Y Tế)

II.  Bệnh đái tháo đường là bệnh như thế nào?

1. Tìm hiểu bệnh đái tháo đường là gì?

Chúng ta ăn uống hàng ngày. Lượng carbohydrates (đường bột) từ bữa ăn được hấp thu vào đường ruột như glucose và hòa tan trong máu. Khi đó, một hormone gọi là insulin được tiết ra, nhờ insulin tiết ra, glucose được đưa vào các tế bào và trở thành nguồn năng lượng của cơ thể.

Nếu sự hoạt động của insulin không hiệu quả và nếu lượng đường trong máu tăng lên đến mức mà việc xử lý của insulin không thể đáp ứng được, thì sẽ có một lượng lớn glucose không được chuyển hóa thành nguồn năng lượng của cơ thể và bị dư thừa trong máu. “Tình trạng lượng glucose trong máu (lượng đường trong máu) vượt quá tỷ lệ nhất định” được gọi là “bệnh đái tháo đường”.

2. Triệu chứng của bệnh đái tháo đường

Do bệnh đái tháo đường có một số loại khác nhau nên không thể gộp chung vào một loại, nhưng nhìn chung các triệu chứng cơ năng điển hình của bệnh đái tháo đường cụ thể như sau:

– Đa niệu (lượng nước tiểu nhiều)

– Uống nhiều (hay khát nước và uống nhiều nước hơn bình thường)

– Cân nặng giảm đột ngột

– Trở nên dễ mệt mỏi

3. Phân loại bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường tuýp 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối):

Là bệnh đái tháo đường do các tế bào β của tuyến tụy tiết ra insulin bị phá hủy. Đây là bệnh có tỷ lệ khởi phát cao ở đối tượng trẻ em và vị thành niên, có đặc trưng là thường đột nhiên phát triển và tiến triển nhanh chóng. Ngoài ra, các triệu chứng ban đầu của bệnh rất giống với triệu chứng bệnh cảm lạnh, nhưng sau đó xuất hiện thêm các triệu chứng như khát nước, đa niệu, đột nhiên giảm cân.

Đối với đái tháo đường tuýp 1, khi tế bào β của tuyến tụy phá hủy, insulin không thể được tiết ra, vì vậy nếu bệnh nhân cần phải cung cấp insulin từ bên ngoài vào cơ thể để không gây nguy hiểm đến tính mạng. Do đó biện pháp tiêm insulin là rất cần thiết.

Đái tháo đường tuýp 2 (do giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin).

Đái tháo đường tuýp 2 là một loại bệnh đái tháo đường khởi phát ở những người có yếu tố di truyền về bệnh đái tháo đường và có “vấn đề lối sống” như béo phì, lười vận động, căng thẳng. Bệnh đái tháo đường tuýp 2 được coi là một trong “7 bệnh lối sống lớn”.

Bệnh đái tháo đường tuýp 2 khởi phát chủ yếu ở những người sau độ tuổi trung niên. Đặc trưng của loại bệnh đái tháo đường này là gần như không có triệu chứng cơ năng, thường khởi phát mà bệnh nhân không biết. Không ít các trường hợp bệnh nhân ngạc nhiên khi lần đầu tiên phát hiện bệnh trong kỳ khám sức khỏe tại nơi làm việc và nơi sinh sống mặc dù nghĩ rằng bản thân khỏe mạnh.

Đái tháo đường thai kỳ (là đái tháo đường được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về đái tháo đường tuýp 1, tuýp 2 trước đó).

Bệnh đái tháo đường thai kỳ là một tình trạng bất thường trong trao đổi chất đường do ảnh hưởng của việc mang thai và được phát hiện hoặc khởi phát lần đầu khi mang thai. Đây là một bệnh thường thấy ở phụ nữ mang thai, khi phụ nữ mang thai, hormone được tạo ra bởi nhau thai ức chế chức năng insulin làm cho lượng đường trong máu tăng lên.

Tất nhiên, không phải tất cả phụ nữ mang thai đều bị đái tháo đường, nhưng trường hợp thai phụ béo phì, mang thai khi lớn tuổi, tiền sử gia đình thai phụ có người bị đái tháo đường thường sẽ có xu hướng dễ bị đái tháo đường thai kỳ hơn.

Thể bệnh chuyên biệt của đái tháo đường do các nguyên nhân khác như đái tháo đường sơ sinh hoặc đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng một số loại thuốc, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô…

4. Yếu tố nguy cơ

  • Bị tiền đái tháo đường
  • Béo phì (BMI > 23kg/m2)
  • Từ 45 tuổi trở lên
  • Có cha mẹ, anh chị em ruột bị đái tháo đường
  • Ít hoạt động thể lực (dưới 3 lần/tuần)
  • Đái tháo đường thai kì
  • Chủng tộc: người thuộc Châu Á, Tiểu lục địa Ấn Độ (Nam Á), thổ dân da đỏ, người dân đảo Torres Strait, người dân đảo thuộc Thái bình dương, người Maori, vùng Trung Đông, người Châu Phi không thuộc chủng tộc da trắng.
  • Người bị rối loạn cholesterol và triglyceride.
  • Người bị tăng huyết áp ( >140/90 mmHg).

5. Bệnh đái tháo đường có gì đáng sợ?

Khi bị đái tháo đường (tình trạng lượng đường trong máu vượt quá tỷ lệ nhất định), người bệnh sẽ gặp khó khăn gì?

Khi lượng đường trong máu tăng lên, máu trở nên đặc hơn, tạo áp lực lớn lên mạch máu. Hiện tượng này lâu dài sẽ gây ra nhiều biến chứng và đây chính là điểm đáng sợ của bệnh đái tháo đường. Đặc biệt phần lớn các biến chứng của bệnh đái tháo đường đều liên quan đến mao mạch và tùy từng trường hợp, bệnh nhân có thể bị mất thị giác, thậm chí các chi của chân tay có thể bị hoại tử.

BỆNH TIM MẠCH

  • Nhồi máu cơ tim
  • Đau thắt ngực
  • Bệnh động mạch vành

TỔN THƯƠNG THẦN KINH

  • Đột quỵ
  • Mất cảm giác ở chân
  • Chứng Alzheimer’s

BỆNH VỀ MẮT

  • Mù lòa vĩnh viễn
  • Bệnh cườm nước
  • Đục thủy tinh thể

BỆNH THẬN

  • Suy thận cấp tính
  • Bệnh thận mạn
  • Phù nể ở chân

6. Biến chứng của bệnh đái tháo đường là gì?

Điều đáng lo ngại trong bệnh đái tháo đường là những biến chứng khác nhau xuất hiện do lượng đường trong máu tăng lên tạo áp lực lớn lên mạch máu. Có lẽ mọi người thường nghe những câu chuyện nói rằng “Nếu bị bệnh đái tháo đường, mắt sẽ trở nên không thể nhìn thấy, thận trở nên tồi tệ hơn, hoặc đầu chân tay bị hoại tử.” Thực tế, đây được coi là những triệu chứng tiêu biểu gây ra bởi 3 biến chứng chính của bệnh đái tháo đường.

Bệnh võng mạc đái tháo đường

Cơ chế con người nhìn thấy mọi thứ bằng mắt của mình có thể được mô phỏng như cấu trúc của một bộ phim. “Việc nhìn thấy mọi thứ” có thể nói rằng đó là quá trình ánh sáng đi vào từ tròng mắt được khúc xạ bởi giác mạc hoặc thủy tinh thể (thấu kính của máy chiếu), liên kết các hình ảnh được chiếu lên võng mạc (màn hình) và não ghi nhận hình ảnh đó. Việc bạn đọc ghi nhận dòng chữ được viết ở đây ngay lúc này cũng chính là từ việc cảm nhận ánh sáng trên võng mạc thông qua giác mạc và thủy tinh thể.

Võng mạc là một màng mỏng với vô số dây thần kinh ở đáy mắt và mao mạch căng xung quanh. “Bệnh võng mạc đái tháo đường” là một biến chứng dẫn đến giảm thị lực và mù lòa do áp lực lên mạch máu gây ra bởi bệnh đái tháo đường, máu và oxy không đủ để truyền tới mao mạch của võng mạc.

Bệnh thận do đái tháo đường

Vai trò quan trọng của thận trong cơ thể là lọc chất thải và các chất không cần thiết trong máu rồi thải chúng ra khỏi cơ thể dưới dạng nước tiểu. Có thể nói máu của cơ thể chúng ta được duy trì ở trạng thái ổn định chính là nhờ chức năng lọc của thận.

Tuy nhiên, khi lượng đường trong máu tăng lên do bệnh đái tháo đường, bộ lọc thận bị tắc nghẽn, không thể xử lý được chất thải và các chất không cần thiết, khiến cho việc giữ ổn định tình trạng của máu trở nên khó khăn.

Trong trường hợp xấu nhất, có thể dẫn đến các triệu chứng đe dọa tính mạng nghiêm trọng như tăng ure máu, suy thận và có thể cần phải chạy thận nhân tạo bằng thiết bị y tế.

Bệnh thần kinh đái tháo đường

Đây là một trong ba biến chứng lớn của bệnh đái tháo đường cùng với bệnh võng mạc đái tháo đường và bệnh thận do đái tháo đường, nhưng có vẻ như phần lớn mọi người vẫn chưa hiểu rõ tại sao bệnh đái tháo đường gây tổn thương thần kinh. Có rất nhiều giả thuyết khác nhau về nguyên nhân của biến chứng thần kinh đái tháo đường như “Bởi vì nếu bệnh đái tháo đường càng tiến triển, các tế bào thần kinh sẽ tích lũy nhiều vật chất gây tổn thương”, “Đái tháo đường khiến việc lưu thông máu trong mao mạch trở nên kém đi, dẫn đến thiếu oxy và chất dinh dưỡng cần thiết cho tế bào thần kinh”, nhưng có vẻ như để nói rằng trong các giả thuyết trên, giả thuyết nào đúng thì chưa có kết luận cuối cùng.

Người ta nói rằng các triệu chứng ban đầu của bệnh thần kinh đái tháo đường thường là bị tê và đau chủ yếu ở các ngón chân và bàn chân. Về cảm giác, các triệu chứng thường được biểu hiện ở trạng thái “châm chích”, “đau rát”,…, khi các triệu chứng tiến triển, đau và tê sẽ dần dần xuất hiện ở các ngón tay. Hơn nữa, khi thần kinh tiếp tục bị tổn thương, cảm giác của tứ chi trở nên chậm hơn và bệnh nhân thường bị thương trên tay chân mà không biết.

 

Điều phải chú ý đặc biệt trong bệnh thần kinh đái tháo đường là khi bệnh nhân không chú ý đến một vết trầy xước rất nhỏ do đi giày bị chật hoặc bị cứa, vết thương có thể trở nên tồi tệ hơn như bị nhiễm khuẩn và thời điểm bệnh nhân đi khám tại bệnh viện thì tay và chân đã bị hư hỏng nặng không thể sử dụng được nữa, cách chữa trị duy nhất là cắt bỏ chân tay. Bệnh nhân đái tháo đường nên xác nhận trực quan các chi của chân tay trong khi tắm.

III. Phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường

Có ba phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường tiêu biểu. Liệu pháp ăn uống, liệu pháp vận động, điều trị bằng thuốc. Cả ba đều là phương pháp điều trị nhằm kiểm soát mức đường trong máu và giảm áp lực lên các mạch máu, có thể áp dụng tùy theo loại và triệu chứng của bệnh đái tháo đường.

Hãy cùng tìm hiểu cụ thể về ba phương pháp điều trị này.

1. Ăn uống

Liệu pháp ăn uống là liệu pháp nhằm điều chỉnh lượng đường trong máu bằng thói quen ăn uống lành mạnh có cân bằng. Các điểm chung cần lưu ý được đưa ra là “ăn từ từ và nhai kỹ”, “ăn uống lành mạnh, điều độ vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối”, “không ăn vào đêm muộn hoặc trước khi đi ngủ”, “không ăn quá no, chỉ nên ăn vừa đủ no”, “Cố gắng cân bằng dinh dưỡng với nhận thức đầy đủ về khoáng chất và vitamin, đặc biệt là ba chất dinh dưỡng chính carbohydrate, protein và chất béo”.

Tuy nhiên, vì sự thèm ăn là một trong 3 ham muốn tuyệt vời của con người, ngay cả khi nhận thức điều đó trong đầu, đôi khi bệnh nhân vẫn bị rối loạn trong thói quen ăn uống như “muốn ăn đồ ăn có dầu mỡ!”, “muốn ăn đến no căng bụng”. Để giải quyết vấn đề này, đôi khi có thể thử tạo “ngày đặc biệt để ăn đồ bản thân thích”.

Dù bằng cách nào, do đây là “điều trị” bằng chế độ ăn uống nên vẫn cần tham khảo ý kiến bác sĩ phụ trách.

2. Vận động

Liệu pháp vận động là một phương pháp điều trị thúc đẩy glucose trong máu được đưa vào tế bào để trở thành năng lượng và làm giảm lượng đường trong máu thông qua việc vận động. Tuy nhiên, trong điều trị đái tháo đường, không phải loại vận động nào cũng tốt, nhưng nhìn chung thì tập thể dục nhịp điệu vừa phải với mức độ cảm thấy “hơi khó khăn…” và rèn luyện cơ bắp dường như hiệu quả hơn vận động nặng như thi đấu của vận động viên thể thao,.

Ngoài ra, khi bệnh nhân bắt đầu tăng cường vận động nặng nhưng bỏ cuộc giữa chừng do cảm thấy khó hoặc làm tổn thương cơ thể thì việc tập tăng cường cũng không mang lại hiệu quả gì. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ phụ trách trước và lập một chương trình tập luyện ổn định, hiệu quả và phù hợp với khả năng của bản thân.

3. Điều trị bằng thuốc và insulin

Điều trị bằng thuốc là một phương pháp điều trị kiểm soát lượng đường trong máu trong phạm vi bình thường với sự hỗ trợ của thuốc. Có hai phương pháp chính của việc điều trị là “tiêm insulin” và “uống thuốc hạ đường huyết”, mỗi phương pháp có cách tiến hành khác nhau.

Như đã đề cập trước đó, bệnh đái tháo đường là một căn bệnh do lượng đường trong máu tăng lên khi tuyến tụy không tiết insulin hoặc lượng insulin tiết ra bị giảm.

Nếu lượng insulin tiết ra từ tuyến tụy rất thấp/gần như không có, biện pháp tiêm insulin được áp dụng, trường hợp việc tiết insulin từ tuyến tuỵ được duy trì ở một mức độ nào đó, biện pháp “uống thuốc hạ đường huyết” được áp dụng.

  1. Sử dụng thực phẩm chức năng hỗ trợ

Thực phẩm chức năng hỗ trợ đièu trị bệnh đái tháo đường đang là xu hướng sử dụng của người bệnh bởi tính an toàn và hiệu quả của nó. Sử dụng thêm thực phẩm chức năng giúp giảm nguy cơ biến chứng của bệnh tiểu đường, không gây tác dụng phụ và giúp cơ thể khỏe mạnh hơn.

Riêng với sản phẩm An Đường Khang còn giúp phục hồi gan và thận là hai cơ quan chịu nhiều áp lực khi phải dùng thuốc thường xuyên. Ngoài ra nó còn giúp tăng sức đề kháng để giúp người bệnh tiểu đường tránh những nguy cơ nhiễm trùng khi cơ thể bị thương.

5. Chi phí điều trị bệnh đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường thường được ví là “bệnh nhà giàu” bởi thời gian điều trị lâu dài và chi phí điều trị vô cùng tốn kém. Tuy nhiên chi phí điều trị bệnh đái tháo đường khác nhau tùy thuộc vào sự tiến triển của bệnh và tình trạng của bệnh nhân.

Bài viết này đã giới thiệu khái quát về bệnh tiểu đường. Sau khi đọc xong bài viết, hy vọng mọi người đã có thể hình dung rõ hơn về bệnh đái tháo đường nói chung.

Nguồn

  1. Bộ Y Tế, Quyết định số 3319/QĐ-BYT VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2”
  2. CDC, https://www.cdc.gov/diabetes/basics/risk-factors.html
  3. Kiến thức tiểu đường, Bệnh tiểu đường là gì?, https://kienthuctieuduong.vn/tieu-duong-la-gi/
  4. Ngày đầu tiên, Tổng quan về bệnh tiểu đường [online], https://ngaydautien.vn/dai-thao-duong/tong-quan-ve-benh-dai-thao-duong